04:09 Chủ nhật, 22/10/2017

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 19


Hôm nayHôm nay : 41

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5118

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 558180

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Hiện trạng môi trường không khí » Các nguồn gây ô nhiễm không khí

Các nguồn gây ô nhiễm không khí

Thứ ba - 27/10/2015 09:37
Hiện nay, hoạt động quan trắc môi trường không khí ở Quảng Trị chủ yếu tập trung ở khu vực các đô thị, các KCN, CCN, khu khai thác đá xây dựng và cửa khẩu, nên báo cáo này chủ yếu đánh giá chất lượng môi trường KKXQ ở các khu vực trên theo từng địa phương trong tỉnh và không có thông tin về hiện trạng môi trường không khí ở các làng nghề, khu vực nông thôn và môi trường không khí trong nhà.

Nguồn gây ÔNMT không khí rất đa dạng, đối với môi trường không khí các đô thị, áp lực ô nhiễm chủ yếu do hoạt động giao thông vận tải, hoạt động xây dựng, hoạt động công nghiệp, sinh hoạt của dân cư và xử lý chất thải. Trong đó, ô nhiễm không khí ở đô thị do các hoạt động giao thông vận tải chiếm tỉ lệ 70% (Bộ Giao thông vận tải, năm 2010).

Hoạt động của các phương tiện sử dụng nhiên liệu sẽ phát sinh ra khí thải chứa các chất ô nhiễm như: Bụi, NOx, SO2, VOCs, mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào chất lượng phương tiện, loại phương tiện sử dụng, chất lượng đường sá... Một trong những nguyên nhân gây ÔNMT không khí trên địa bàn là do tỉnh đang áp dụng Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng khí thải từ các phương tiện thấp dẫn đến tình trạng nhiều phương tiện cũ kỹ, lạc hậu còn lưu hành.

Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010, ước tính hoạt động giao thông đóng góp gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs. Trong khi đó, hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp chính khí SO2. Đối với NO2, hoạt động giao thông và các ngành sản xuất công nghiệp có tỉ lệ đóng góp xấp xỉ nhau. Riêng đối với TSP, ngành sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng là nguồn phát thải chủ yếu (chiếm khoảng 70%).

Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động giao thông

Ở các đô thị, giao thông vận tải là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đối với không khí, đặc biệt là sự phát thải các khí CO, VOCs và NO2. Lượng thải các khí này tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số lượng các phương tiện giao thông đường bộ. Tổng số phương tiện của Quảng Trị tăng từ 20.974 phương tiện (năm 2010) lên 23.643 phương tiện (năm 2014) (Công an tỉnh Quảng Trị, 2014). Xét trên từng phương tiện tham gia giao thông, thì thải lượng ô nhiễm không khí từ xe máy là tương đối nhỏ, trung bình mỗi xe máy xả ra lượng khí thải chỉ bằng V so với xe ô tô con. Tuy nhiên, do số lượng xe máy tham gia giao thông chiếm tỉ lệ lớn hơn, chiếm 92,4% (Công an tỉnh Quảng Trị, 2013)    và chất lượng nhiều loại xe máy đã xuống cấp nên xe máy hiện vẫn là nguồn đóng góp chính các loại khí gây ô nhiễm, đặc biệt đối với các chất CO và VOCs. Trong khi đó, xe tải và xe khách các loại thải nhiều SO2 và NO2.

Thải lượng TSP tăng từ 136,3 tấn (năm 2010) lên 215,4 tấn (năm 2014), thải lượng NOx tăng từ 132,9 tấn (năm 2010) lên 236,5 tấn (năm 2014), thải lượng SO2 tăng từ 26,9 tấn (năm 2010) lên 44,5 tấn (năm 2014), thải lượng CO tăng từ 15.328 tấn (năm 2010) lên 24.228 tấn (năm 2014) (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Ngoài việc xả khí thải từ động cơ, các phương tiện giao thông tham gia lưu thông trên đường còn góp phần phát tán bụi vào môi trường, đặc biệt là các phương tiện giao thông vận tải vật liệu, phế thải xây dựng trong hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng dân dụng, công nghiệp và giao thông. Trong 5 năm qua, hoạt động nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn đi qua tỉnh Quảng Trị bị chậm trễ, kéo dài. Mặc dù, theo quy định đơn vị thi công phải thực hiện các biện pháp BVMT nhưng việc áp dụng không nghiệm túc, kết hợp với khí hậu khô nóng kéo dài trong mùa khô tại Quảng Trị, hoạt động nâng cấp Quốc lộ 1A đã phát tán một lượng không nhỏ bụi vào môi trường, đặc biệt là môi trường sống của các hộ dân ven đường.

Bên cạnh đó, các hoạt động giao thông đường không, đường sắt và đường thủy cũng góp một phần nhỏ thải lượng các loại khí thải vào môi trường.

Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp và dịch vụ 

Các ngành sản xuất công nghiệp ở Quảng Trị tương đối đa dạng, thành phần các loại khí thải vào môi trường cũng khác nhau. Nguồn gây ô nhiễm không khí do hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch ở Quảng Trị chủ yếu là các nhà máy sản xuất gạch tuy nen với tổng công suất 120 triệu viên/năm. Mỗi năm, ngành công nghiệp này thải ra môi trường 26,4 tấn SO2, 8,8 tấn NOx và 8,6 tấn CO (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Nguồn phát thải bụi TSP và PM10 vào không khí ở Quảng Trị chủ yếu từ hoạt động sản xuất xi măng (trạm nghiền), khai thác và chế biến đá xây dựng, sản xuất gỗ, với khối lượng khoảng 3.493 tấn TSP/năm (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Ngoài ra, các khí thải còn phát sinh từ các lò đốt CTR y tế. Hiện tại, có 09 lò đốt đang hoạt động. Hầu hết kết quả kiểm tra cho thấy, hàm lượng chất ô nhiễm có trong khí thải lò đốt CTR y tế đều vượt giới hạn quy định của QCVN 02:2012/BTNMT.

 Thải lượng ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp và làng nghề

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thường phát sinh các khí CH4, H2S, NH3, đặc biệt là hoạt động sản xuất lúa nước, các khí nhà kính được tạo ra trong quá trình ruộng bị ngập nước. Hoạt động trồng trọt cũng phát sinh các khí axit, kiềm độc hại vào môi trường do sử dụng dư thừa phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Hoạt động chăn nuôi cũng phát tán vào môi trường các khí CH4, H2S, NH3 do quá trình phân hủy phân động vật, phân ủ. Ngoài ra, phương thức canh tác hiện nay đang đốt phế thải như rơm, rạ, cỏ, bao bì,... đang tạo ra một lượng khói và khí thải CO2 đáng kể vào môi trường.

Hoạt động sản xuất tại làng nghề cũng tạo ra áp lực lên môi trường không khí. Trong đó, các làng nghề bún Cẩm Thạch (Cam An, Cam Lộ), làng nghề bún Linh Chiểu và Thượng Trạch (Triệu Sơn, Triệu Phong) chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống thoát và xử lý nước thải, nên khí thải phát sinh từ nước thải làm bún đang gây ÔNMT xung quanh.

 Thải lượng các chất ô nhiêm từ sinh hoạt

Tuy thải lượng phát sinh không nhiều, nhưng sinh hoạt của dân cư cũng đóng góp một phần nhỏ các tác nhân gây ô nhiễm như bụi, SO2 và CO.

Hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu gây ra ô nhiễm cục bộ trong phạm vi hộ gia đình. Ngoài các nhiên liệu như củi gỗ, rơm rạ truyền thống, ga, thì than tổ ong là nhiên liệu tạo ra nhiều khí thải độc hại cho môi trường như CO, SO2, bụi... Tại các đô thị, do mật độ dân cư đông đúc, nên áp lực từ việc sử dụng nhiên liệu lên môi trường lớn hơn so với khu vực nông thôn.

Thải lượng các chất ô nhiêm từ hoạt động khác

Hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải chưa triệt để như các bãi rác lộ thiên, hoạt động chứa nguyên liệu ngoài trời, bãi chứa chất thải sản xuất,. cũng làm phát tán bụi và các chất độc hại như SO2, NOx, CO, CH4, VOCs ... vào môi trường. Ước tính, tại các bãi chôn lấp có khoảng 30% các chất khí phát sinh thoát lên bề mặt mà không cần một tác động nào (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2013).

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết