21:52 Thứ hai, 11/12/2017

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 380

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2827

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 573984

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Hiện trạng môi trường nước » Mặt nước lục địa

Nước mặt lục địa

Thứ ba - 27/10/2015 08:27

Tài nguyên nước mặt lục địa

Do lượng mưa hàng năm lớn, lại rơi trên địa hình bị chia cắt mạnh nên Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8 - 1,0 km/km2. Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc. Toàn tỉnh có 04 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn, sông Ô Lâu và sông Sê Pôn - Sê Păng Hiêng.

-   Hệ thống sông Bến Hải: Bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao 500 m, chảy theo hướng từ Tây sang Đông, đổ ra biển tại Cửa Tùng, có chiều dài 76 km. Diện tích lưu vực rộng khoảng 923 km2, trong đó phần diện tích lưu vực thuộc tỉnh Quảng Trị vào khoảng 863 km2. Sông Bến Hải có 4 sông nhánh cấp I và 4 sông nhánh cấp II. Sông Sa Lung là nhánh lớn nhất của sông Bến Hải. Phần thượng nguồn có tên là Rào Quang, bắt nguồn từ độ cao 150m của vùng đồi phía Tây xã Vĩnh Ô, huyện Vĩnh Linh, đổ vào sông Bến Hải ở thượng nguồn cầu Hiền Lương từ phía tả ngạn. Sông Sa Lung dài 41,5 km, diện tích lưu vực 397km2, chiều dài lưu vực 31 km, độ cao bình quân lưu vực 75km.

-   Hệ thống sông Thạch Hãn: Thạch Hãn là sông lớn nhất của Quảng Trị. Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất (2.727 km2), đổ ra biển ở Cửa Việt. Sông Thạch Hãn có 37 con sông gồm 17 sông nhánh cấp I với 3 nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và sông Hiếu, 16 nhánh sông cấp II, 6 sông cấp III. Sông nhánh cấp I lớn nhất của sông Thạch Hãn là sông Rào Quán có tổng chiều dài là 42 km bắt nguồn từ Động Sá Mùi trên 1500 m ở xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Lưu vực sôngRào Quán có diện tích 244 km2, độ cao trung bình 517 m.

Vĩnh Phước là sông nhánh cấp I ở phía tả ngạn sông Thạch Hãn, bắt nguồn từ vùng đồi cao 400 m ở phía Tây xã Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ. Có chiều dài 59 km, diện tích lưu vực 285 km2.

Sông Hiếu (còn gọi là sông Cam Lộ) là sông nhánh ở phía tả ngạn sông Thạch Hãn, bắt nguồn từ vùng núi Đông Trường Sơn ở độ cao 1425 m, chảy theo hướng Tây Tây Nam - Đông Đông Bắc qua thành phố Đông Hà, đổ vào sông Thạch Hãn tại ngã ba Gia Độ, có chiều dài 78 km, diện tích lưu vực 535 km2.

Về phía hạ lưu, Sông Thạch Hãn được nối với sông Bến Hải bởi sông đào Cánh Hòm và nối với sông Ô Lâu bởi sông đào Vĩnh Định.

-   Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh): Được hợp lưu bởi hai nhánh sông chính là Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc. Sông Ô Lâu bắt nguồn từ độ cao khoảng 900m của vùng rừng núi thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Diện tích lưu vực của hai nhánh sông 926 km2, chiều dài 99 km, diện tích lưu vực thuộc tỉnh Quảng Trị 233 km2. Phần thượng lưu của sông Ô Lâu chảy trên địa bàn tỉnh Thừa thiên Huế, chỉ có một đoạn hạ lưu chảy qua tỉnh Quảng Trị và làm thành đường ranh giới phía Đông Nam giữa tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi vòng qua vùng cát phía Đông Nam tỉnh Quảng Trị, sông chính Ô Lâu lại chảy sang địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế và đổ vào phá Tam Giang qua cửa Lác, đổ ra Biển Đông qua cửa Thuận An.

-   Hệ thống sông Sê Pôn - Sê Păng Hiêng bao gồm sông Sê Pôn đoạn cửa khẩu Lao Bảo - A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn Đồn Biên phòng Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa). Sông Sê Pôn bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1.000 m thuộc nước Lào, chảy về biên giới Việt-Lào và tạo thành đường biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia. Sông có chiều dài 59 km, phần lưu vực thuộc Quảng Trị là 425 km2.

Sông Sê Păng Hiêng bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1.200 m ở phía Tây Trường Sơn thuộc vùng Đông Bắc xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa có chiều dài là 37km và diện tích lưu vực thuộc Quảng Trị là 195 km2. Sông Sê Păng Hiêng và Sông Sê Pôn hợp nhất trên địa phận nước Lào và đổ vào hệ thống sông Mê Kông.

Hệ thống suối: Phân bố dày đặc ở vùng thượng nguồn. Các thung lũng suối phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp.

Thuỷ triều trên dải bờ biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều, gần số ngày trong hàng tháng có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng. Mực nước đỉnh triều tương đối lớn từ tháng 8 đến tháng 12 và nhỏ hơn từ tháng 1 đến tháng 7. Biên độ triều lên lớn nhất hàng tháng trong các năm không lớn, dao động từ 59 - 116 cm. Độ lớn triều vào kỳ nước cường có thể đạt tới 2,5 m.

Ngoài ra, Quảng Trị còn có hệ thống 48 hồ, đập lớn nhỏ.

Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt lục địa

Hiện nay, các lưu vực sông ở Quảng Trị đã và đang chịu áp lực của quá trình gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Trong số các nguồn thải phát sinh, thì nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp và nước thải công nghiệp là các nguồn thải chính đóng góp đáng kể các chất ô nhiễm vào các lưu vực nước mặt lục địa.

Nước thải sinh hoạt và dịch vụ

Lượng nước thải sinh hoạt đổ vào các lưu vực tăng từ 17,7 triệu m3 (năm 2010) lên 18,4 triệu m3 (năm 2014) (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015). Trong đó tổng lượng nước thải đô thị đóng góp khoảng 70% vào tổng lượng nước thải lĩnh vực sinh hoạt và dịch vụ. Nguyên nhân là do tốc độ gia tăng dân số nói chung và gia tăng dân số đô thị nói riêng. Hiện nay, dân số đô thị là 179.487 người, chiếm 29,12% tổng dân số toàn tỉnh Quảng Trị (Niên giám thống kê Quảng Trị, 2014). Toàn tỉnh hiện có 13 đô thị, bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 11 thị trấn. Bên cạnh đó, ở khu vực nông thôn, lượng nước thải sinh hoạt cũng chiếm một tỉ lệ lớn và gia tăng hàng năm.

Tất cả các đô thị trong tỉnh đều chưa có hệ thống XLNT tập trung. Hầu hết nước thải sinh hoạt của các đô thị đề chưa được xử lý đúng mức, đổ trực tiếp vào các các sông hồ gây ô nhiễm môi trường nước mặt. Nhiều BCL CTR không hợp vệ sinh đang hoạt động và một số bãi rác vận hành không hiệu quả hệ thống xử lý nước rỉ rác cũng đang gây áp lực lớn lên môi trường nước mặt (xem Hình 3.1.2).

Sinh hoạt và dịch vụ là lĩnh vực thải ra lượng BOD5 lớn nhất, thải lượng BOD5 tăng trên toàn tỉnh (từ 3091,5 tấn/năm đến 3269,8 tấn/năm trong thời gian 2010 - 2014). Ngoài ra, năm 2014, môi trường toàn tỉnh tiếp nhận thêm từ nước thải sinh hoạt và dịch vụ 596 tấn Tổng N và 168 tấn Tổng P, nhiều hơn 32,4 tấn và 9,2 tấn so với năm 2010 (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Nước thải công nghiệp

Phát triển công nghiệp của Quảng Trị trong 5 năm qua (2010 - 2014) nhìn chung còn hạn chế. Tổng số các KCN và CCN của tỉnh Quảng Trị đã được thành lập tính đến năm 2014 bao gồm 04 KCN/KKT và 15 CCN. Tỷ lệ lấp đầy KCN, CCN ở tỉnh Quảng Trị còn thấp (trung bình 52,18% đối với KCN và 53,13% đối với CCN), một số CCN còn để trống (0%) (xem Bảng 3.1.2). Đến nay, hầu hết chưa có KCN/CCN nào được xây dựng hệ thống XLNT (ngoại trừ CCN Ái Tử). Cơ cấu công nghiệp nhóm ngành sản xuất có khả năng gây ô nhiễm môi trường ở mức cao gồm: chế biến cao su, chế biến nông sản, chế biến thủy sản, nuôi trồng thủy sản (có 76 cơ sở, chiếm 18,1%); nhóm ngành sản xuất có khả năng gây xói lở bờ sông, bờ biển và ô nhiễm kim loại nặng, chất rắn lơ lững là nhóm khai thác khoáng sản (có 22 cơ sở, chiếm 5,24%). Ngoài ra, các nhóm ngành sản xuất khác cũng đóng góp vào ô nhiễm môi trường nước như: sản xuất giấy, đồ uống, cơ khí và sản xuất vật liệu xây dựng (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Lượng nước thải công nghiệp toàn tỉnh tăng từ 1,9 triệu m3 (năm 2010) lên 2,9 m3 (năm 2012) và giảm xuống 1,9 triệu m3 (năm 2014) (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Nước thải nông nghiệp, làng nghề

Lượng nước thải nông nghiệp toàn tỉnh tăng từ 278,4 triệu m3 (năm 2010) lên 292 triệu m3 (năm 2014), lượng phân bón hóa học sử dụng tăng từ 101.358 tấn (năm 2010) lên 112.675 tấn (năm 1014) (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015). Hoạt động trồng trọt sử dụng phân bón không đúng quy trình, sử dụng quá mức hóa chất BVTV dẫn đến tồn dư trong đất canh tác, rửa trôi theo các dòng chảy mặt, đặc biệt vào các mùa mưa, lũ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguy cơ gây phú dưỡng cho các lưu vực. Kết quả phân tích COD trong nước thải nông nghiệp đổ vào Sông Vĩnh Định năm 2012 giao động trong khoảng từ 10 - 30 mg/L, thậm chí có một số mẫu COD trên 50 mg/L (Báo cáo Điều tra ô nhiễm sông Vĩnh Định, 2012).

Hiện tại, Quảng Trị có 51 làng nghề, có 12 làng nghề đã được công nhận. Trong đó, có 03 làng nghề làm bún là làng nghề bún Cẩm Thạch (xã Cam An, huyện Cam Lộ) và 02 làng nghề bún Linh Chiểu và Thượng Trạch (xã Triệu Sơn, huyện Triệu

 

Phong). Các làng nghề này chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống XLNT nên đang gây lo lắng về ô nhiễm môi trường nước mặt cục bộ tại địa phương.

Nông nghiệp và làng nghề là lĩnh vực thải ra môi trường một lượng lớn chất dinh dưỡng, chủ yếu từ hai nhóm nguồn là nuôi trồng thuỷ sản và nước chảy tràn. Năm 2010, ngành ngày thải vào môi trường 3719,4 tấn Tổng N và 214,7 tấn Tổng P (Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Trị, 2015).

Diễn biến ô nhiễm nước mặt lục địa

Kết quả quan trắc nước mặt lục địa tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2010 - 2014 được thực hiện trên 07 sông bao gồm: Thạch Hãn, Hiếu, Bến Hải, Sa Lung, Vĩnh Định, Sê Pôn, Vĩnh Phước và 04 hồ bao gồm: Trằm Trà Lộc, Đập Trấm, Tích Tường, Khe Mây.

Độ đục nước (NTU)

Trong giai đoạn 2010 - 2014, độ đục các sông và hồ tại tất cả các điểm quan trắc ở tỉnh Quảng Trị biến động không nhiều. Độ đục trung bình các sông và hồ dao động trong khoảng 5 - 58 NTU và 2 - 12 NTU. Độ đục nước các sông có xu hướng cao hơn độ đục nước các hồ. Riêng sông Sa Lung có độ đục trung bình cao nhất vào năm 2012 (58 NTU). Độ đục nước sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Vĩnh Định, sông Sê Pôn và hồ Tích Tường, hồ Khe Mây năm 2013 có xu thế cao hơn so với năm 2012. Sông có độ đục thấp nhất là sông Vĩnh Phước - hiện đang được dùng làm nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đông Hà (xem Hình 3.1.3.1).

 

Hình 3.1.3.1. Độ đục trung bình của nước (NTU) các sông và hồ giai đoạn 2010 – 2014  

Hàm lượng ô xi hòa tan (DO)

Hàm lượng DO trung bình trong các sông, hồ ở Quảng Trị trong giai đoạn 2010 - 2014 tại tất cả các điểm quan trắc dao động tương ứng trong khoảng 5,0 - 8,1 mg/L và 5,5 - 7,5 mg/L. Nhiều mẫu quan trắc đạt mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT. Một số trường hợp hàm lượng DO trung bình không đạt mức A2 của QCVN 08:2008/BTNMT như: sông Hiếu năm 2012 và 2013, sông Vĩnh Phước năm 2012, sông Vĩnh Định và sông Sê Pôn năm 2013 (xem Hình 3.1.3.2).

Các sông, hồ có hàm lượng COD trung bình trong giai đoạn 2010 - 2014 tại tất cả các điểm quan trắc nước sông và nước hồ dao động trong khoảng 3,1 - 13,3 mg/L và 1,9 - 10,2 mg/L. Hàm lượng COD trung bình trong đa số các trường hợp đều đạt mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT. Một số trường hợp thậm chí không đạt mức A2, như: sông Hiếu năm 2011, 2012, sông Vĩnh Định năm 2011, 2012, sông Bến Hải năm 2011, sông Vĩnh Phước năm 2012, Đập Trấm, hồ Tích Tường và hồ Khe Mây năm 2012 (xem Hình 3.1.3.3).

Nhu cầu ô xi sinh hóa (BOD5)

Hàm lượng BOD5 trung bình trong các sông, hồ trong giai đoạn 2010 - 2014 tại tất cả các điểm quan trắc nước sông và nước hồ dao động trong khoảng 1,2 - 8,3 mg/L và 1,2 - 5,6 mg/L. Hàm lượng BOD5 trung bình trong đa số các trường hợp đều đạt mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT, một số trường hợp thậm chí không đạt mức A2, như: sông Hiếu và sông Vĩnh Định năm 2011 và 2012, sông Bến Hải năm 2011, sông Vĩnh Phước năm 2012, Đập Trấm, hồ Tích Tường, hồ Khe Mây năm 2012 (xem Hình 3.1.3.4).

Hàm lượng N-NH4+ trung bình trong các sông, hồ trong giai đoạn 2010 - 2014 tại tất cả các điểm quan trắc dao động trong khoảng 0,05 - 0,62 mg/L và 0,05 - 0,49 mg/L. Hầu hết các sông, hồ đều có hàm lượng N-NH4+ trung bình không đạt mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT; nhiều trường hợp không đạt mức A2. Có nhiều trường hợp thậm chí không đạt mức B1, như: sông Hiếu, sông Sa Lung, sông Sê Pôn năm 2011; sông Bến Hải và sông Vĩnh Địnhnăm 2011 và 2012, Trằm Trà Lộc năm 2011 và 2012; đập Trấm và hồ Khe Mây năm 2012 (xem Hình 3.1.3.5).

Hàm lượng nitrit (N-NO2-)

Hàm lượng N-NO2- trung bình trong giai đoạn 2010 - 2014 ở tất cả các điểm quan trắc nước sông và nước hồ dao động trong khoảng 0,003 - 0,27 mg/L và 0,01 - 0,09 mg/L. Hầu hết các sông, hồ đều có hàm lượng N-NO2- trung bình không đạt mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT; nhiều trường hợp không đạt mức A2 và thậm chí không đạt mức B1, như: sông Thạch Hãn năm 2012, sông Hiếu năm 2013, sông Sa Lung năm 2011 và 2012, sông Vĩnh Địnhnăm 2010, 2012, và 2013 và 2014, sông Sê Pôn năm 2013, và sông Vĩnh Phước năm 2012 và 2014, Trằm Trà Lộc năm 2012, Đập Trấm năm 2010 và 2012, hồ Tích Tường và hồ Khe Mây năm 2012 (xem Hình 3.1.3.6).

Hàm lượng nitrat (N-NO3-)

 

Hàm lượng N-NO3- trung bình trong giai đoạn 2010 - 2014 ở tất cả các điểm quan trắc nước sông và nước hồ dao động trong khoảng 0,19 - 2,97 mg/L và 0,11 - 2,04 mg/L. Hầu hết các sông, hồ đều có hàm lượng N-NO3- trung bình đạt mức A2 của QCVN 08:2008/BTNMT; nhiều trường hợp đạt mức A1; trường hợp (sông Sê Pôn năm 2011) không đạt mức A2 (xem Hình 3.1.3.7).

Hàm lượng photphat (P-PO43")

Hàm lượng P-PO43- trung bình trong giai đoạn 2010 - 2014 ở tất cả các điểm quan trắc nước sông và nước hồ dao động trong khoảng 0,03 - 0,44 mg/L và 0,02 - 0,59 mg/L. Hầu hết các sông, hồ đều có hàm lượng P-PO43- trung bình đạt mức A2 của QCVN 08:2008/BTNMT; nhiều trường hợp đạt mức A1; trong đó có các trường hợp (sông Hiếu và sông Sa Lung năm 2012; hồ Tích Tường năm 2012 và 2013) 

Tổng coliform

Tổng coliform trong nước các sông, hồ ở tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2010 - 2014 hầu hết đều đạt yêu cầu mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT. Song, cần thấy rằng, tất cả các mẫu nước sông, hồ đều có mặt tổng coliform, tức là đều có khả năng bị ô nhiễm vi khuẩn phân. Mặt khác, mật độ tổng coliform trong nước các sông cao hơn so với trong các hồ, có thể là do các sông phải tiếp nhận nhiều chất thải (nước thải và CTR) từ các hoạt động nhân tạo hơn so với các hồ, nên mức ô nhiễm các vi khuẩn có nguồn gốc phân người và động vật cao hơn.

Hàm lượng kim loại nặng

Trong chương trình quan trắc của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010 - 2014, không quan trắc tất cả các kim loại độc (Hg, Cd, As, Pb, Ni, Cr, Cu, Zn) tại tất cả các trạm quan trắc, mà chỉ quan trắc Cu từ năm 2010 đến năm 2014 và quan trắc Pb, Cd và Hg từ năm 2012 đến năm 2014 ở một số điểm lựa chọn, nên ở đây chỉ đề cập đến hàm lượng Cu, Pb, Cd và Hg trong nước mặt lục địa.

Nói chung, cơ sở dữ liệu về các kim loại độc trong các nguồn nước mặt lục địa ở tỉnh Quảng Trị còn rất hạn chế. Kết quả quan trắc cho thấy, hàm lượng Cu, Pb, Cd và Hg trong các sông hồ khảo sát đều thấp hơn nhiều so với mức A1 của QCVN 08:2008/BTNMT, ngoại trừ 2 trường hợp không đạt mức B2. Tuy vậy, 2 trường hợp trên chỉ xuất hiện trong một lần quan trắc (n = 1) nên chưa đại diện và do vậy chỉ mang tính tham khảo.

Xâm nhập mặn

Trong nhiều năm qua, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển KT-XH, môi trường và đời sống con người ở các tỉnh miền Trung - Tây nguyên nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. Kết quả quan trắc xâm nhập mặn từ tháng 3 đếm tháng 6 năm 2015 trên các hệ thống sông cho thấy, tất cả các điểm quan trắc tại trung lưu các sông, độ mặn đang ở ngưỡng lợ đến ngưỡng mặn.

Trên sông Thạch Hãn, xâm nhập mặn đã lên đến chân đập Trấm (độ mặn trung bình tháng 6 hơn 2%o) (xem Hình 3.1.3.9).

Trên sông Hiếu, xâm nhập mặn chưa đến cầu Đuồi (điểm quan trắc SH2) nhưng theo thông tin thu thập được từ người dân qua quá trình quan trắc thì xâm nhập mặn đã đến cầu treo Cam Hiếu (xem Hình 3.1.3.10).

Trên sông Bến Hải, tại hai nhánh sông quan trắc là sông Bến Hải và sông Sa Lung, xâm nhập mặn đã vượt xa vị trí quan trắc (độ mặn trung bình tại các điểm quan trắc đã ở ngưỡng mặn, hơn 22,4%) (xem Hình 3.1.3.11).

Kết quả cho thấy, càng vào sâu trong đất liền thì càng nhận thấy rõ tháng 6 là tháng có độ mặn lớn nhất và hiện tượng xâm nhập mặn là sâu nhất. Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả đo đạc trước đây của Viện Quy hoạch thủy lợi (2000) và số liệu đo đạc của Đại học Huế (Nguyễn Văn Hợp và cộng sự, 2005).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết