22:03 Thứ hai, 11/12/2017

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay : 427

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2874

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 574031

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Hiện trạng môi trường nước » Nước dưới đất

Nước dưới đất

Thứ ba - 27/10/2015 08:55

Tài nguyên nước dưới đất

Nước dưới đất là hợp phần quan trọng của tài nguyên nước, là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp.

Ở Quảng Trị, nước dưới đất tồn tại trong các trầm tích bở rời Đệ Tứ được phát hiện trong các lưu vực sông, trong đồng bằng và các cồn cát ven biển. Độ dốc thủy lực của các tầng chứa nước nhìn chung rất nhỏ (0,008 - 0,012). Độ sâu mực nước ở trung tâm các lưu vực thường chỉ vào khoảng 1,0 - 2,0 m. Trên các cồn cát và các cánh đồng trước núi, nón phóng vật thì mực nước ngầm nằm sâu hơn (2,0 - 5,0 m).

Các tầng chứa nước lỗ hổng Quảng Trị có bề dày khá lớn (10 - 30 m), có chỗ đạt được 35 m. Trên vùng tam giác cửa sông, phần lớn nước lỗ hổng bị nhiễm mặn, chất lượng kém đối với các mục tiêu cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp (tổng khoáng hóa > 1

-     3 g/l).

Tiềm năng nước dưới đất ở Quảng Trị:

Tổng trữ lượng tĩnh:                                                              1.656.800.000 m3;

Tổng trữ lượng động thiên nhiên                                         1.094.690 m3/ngày;

Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng 1.112.750 m3/ngày. về loại hình hóa học của nước, tầng chứa nước thứ nhất chủ yếu thuộc loại hỗn hợp, phân bố hầu hết ở các loại vùng miền. Đối với tầng chứa nước thứ 2, chủ yếu là nước thuộc loại clorua, phân bố hầu hết ở các vùng miền.

về tổng độ khoáng hóa, phần lớn diện tích (95%) chứa nước dưới đất có tổng độ khoáng hóa nhỏ hơn 500 mg/L.

về hàm lượng sắt tổng, cả hai tầng chứa nước dưới đất chủ yếu có hàm lượng sắt tổng nhỏ hơn 1,00 mg/L. Những vùng có hàm lượng sắt tổng từ 1,00 - 5,00 mg/L phân bố dưới dạng các dải nước nằm rãi rác trong vùng đồng bằng ven biển. Diện tích phân bố của vùng có hàm lượng sắt tổng lớn hơn 5,00 mg/L không lớn và nằm rãi rác ở các vùng cát và pha cát ven biển.

về hàm lượng nitơ tổng, Hầu hết diện tích phân bố có hàm lượng nitơ tổng nhỏ hơn 10 mg/L đối với tầng chứa nước thứ nhất và nhỏ hơn 1,0 mg/L đối với tầng chứa nước thứ hai.

Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất Nước thải

Nước thải chưa qua xử lý là một trong những nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường nước dưới đất.

Ở Quảng Trị, chưa có đô thị nào có hệ thống XLNT đi vào hoạt động, hệ thống cơ sở hạ tầng thoát nước đô thị đang trong quá trình xây dựng chưa hoàn thiện, gây rò rỉ nước thải vào môi trường, trong đó có môi trường nước ngầm.

Đối với nước thải công nghiệp, nhiều cơ sở sản xuất, đặc biệt là các trang trại nuôi tôm trên cát ven biển chưa có hệ thống XLNT, hoặc có nhưng xây dựng và vận hành không đạt yêu cầu cũng là một nguồn gây ô nhiễm hữu cơ và xâm nhập mặn cho nước ngầm vùng ven biển. Hiện nay, trong số 15 trang trại nuôi tôm trên cát, hiện chỉ có một cơ sở có đầu tư hệ thống XLNT.

Bãi chôn lấp CTR

Số lượng các BCL rác có hệ thống xử lý nước rác ở Quảng Trị rất thấp, dưới 15% số bãi đang hoạt động (các bãi rác có hệ thống XLNT gồm: bãi rác thành phố

Đông Hà, bãi rác thị xã Quảng Trị, bãi rác thị trấn Hải Lăng, bãi rác thị trấn Cam Lộ, bãi rác thị trấn Gio Linh, riêng bãi rác huyện Triệu Phong đang xây dựng).

Các BCL còn lại đều là các bãi lộ thiên, không có lót bạt chống thấm. Các BCL rác ở Quảng Trị hiện tại vẫn đang gây nguy cơ ô nhiễm môi trường nước mặt và nước ngầm (xem Bảng 3.2.2).

Khai thác khoáng sản

Hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác titan ven biển cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường nước ngầm tầng nông. Một số vùng cát ven biển Quảng Trị có chứa phèn tiềm tàng. Hoạt động khai thác titan làm phơi nhiễm nguồn phèn tiềm tàng trong đất dẫn đến việc gia tăng sự ô xy hóa và hòa tan sắt vào nước ngầm.

3.2.1.    Diễn biến ô nhiễm nước dưới đất

Kết quả quan trắc giai đoạn 2010 - 2014 cho thấy, phần lớn các thông số quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT. CLN ngầm chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm hợp chất nitơ, photpho và kim loại nặng. Tuy nhiên, tại một số vị trí, chất hữu cơ, amoni, clorua, độ cứng và coliform có dấu hiệu vượt giới hạn cho phép. Một số thông số như Fe, kim loại nặng, clorua, độ cứng, vi sinh vật có dấu hiệu tăng nhẹ từ năm 2010 - 2014.

Tại một số điểm ven biển, CLN ngầm bị nhiễm khuẩn, nhiễm mặn, amoni và chất hữu cơ do họat động nuôi tôm trên cát. Hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tăng tại NN30 (khu vực nuôi tôm xã Triệu An), NN66 (khu vực nuôi tôm xã Triệu Vân). pH

pH tại phần lớn các vị trí đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT và dao động từ 4,95 - 7,20. Riêng tại vị trí NN30 pH có sự biến động lớn nhất (xem Hình 3.2.2.1).

Kết quả quan trắc giai đoạn từ năm 2009 - 2014 cũng cho thấy độ cứng ít có sự biến động lớn qua các năm. Ngoại trừ điểm NN66, độ cứng tăng mạnh từ năm 2012 - 2014 có lúc vượt giới hạn theo QCVN 09:2008/BTNMT gần 5 lần (xem Hình 3.2.2.2).

Nhu cầu ô xi hóa học (COD)

COD trong môi trường nước ngầm có chiều hướng tăng từ năm 2009 - 2012 và giảm từ 2013 - 2014, có lúc COD vượt giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT từ 1 - 2 lần (xem Hình 3.2.2.3).

Hàm lượng amoni (N-NH4+)

Quá trình quan trắc từ năm 2009 - 2014 ghi nhận nồng độ amoni tại một số điểm vượt giới hạn cho phép từ 1 - 7 lần và có xu hướng tăng dần từ 2009 - 2013, giảm mạnh vào năm 2014 do ảnh hưởng từ hoạt động nuôi tôm trên cát (xem Hình 3.2.2.4).

Tổng Fe tan và kim loại nặng

Trong giai đoạn 2009 - 2014, nồng độ Fe tan hầu hết đều đạt giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT. Tại một số điểm nồng độ Fe tan có xu hướng tăng từ - 2014, các vị trí khác sự biến động này không có quy luật và tính ổn định, có lúc không đảm bảo cung cấp cho mục đích sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT (xem Hình 3.2.2.5).

Hàm lượng clorua

Kết quả clorua qua các năm quan trắc cho thấy, clorua trong nước ngầm ở hầu hết các điểm quan trắc ít có sự biến động. Cá biệt, có điểm nồng độ clorua có xu hướng tăng lên từ 2009 - 2013 (xem Hình 3.2.2.6).

Vi sinh vật (Coliform, E.coli) 

Kết quả quan trắc mật độ vi sinh vật trong nước ngầm giai đoạn từ 2009 - 2014 cho thấy, tại phần lớn các vị trí mật độ vi sinh vật có xu hướng tăng dần từ năm 2009 - 2014. Nhiều điểm, vi sinh vật vượt giới hạn cho phép theo QCVN 09:2008/BTNMT từ 1 - 7 lần. Sự xuất hiện E.coli trong nước ngầm có chiều hướng tăng dần từ 2012 -2013    (xem Hình 3.2.2.7).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết