04:02 Chủ nhật, 22/10/2017

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 15

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5092

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 558154

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Sức ép của PT KTXH lên môi trường » Sức ép dân số & vấn đề di cư

Sức ép dân số & vấn đề di cư

Thứ hai - 26/10/2015 10:54
Sự phát triển dân số và vấn đề di cư Dân số tỉnh Quảng Trị năm 2014 là 616.670 người. Trong đó, dân số thành thị là 178.985 người và dân số nông thôn là 437.685 người (xem Hình 2.2). Theo số liệu thống kê năm 2014, mật độ dân số trung bình của tỉnh Quảng Trị là 130 người/km2, phân bố không đồng đều giữa các vùng (cao nhất tại thành phố Đông Hà với 1.197 người/km2, thấp nhất tại Đakrông với 31 người/km2).
Hình 2.2.1. Cơ cấu dân số tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2010-2014

Hình 2.2.1. Cơ cấu dân số tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2010-2014

Giai đoạn từ 2010-2014, không có sự chuyển dịch lớn giữa dân số nông thôn và thành thị. Cơ cấu dân số giữa nam và nữ giai đoạn 2010 - 2014 trong toàn bộ dân số vẫn ở mức độ phù hợp, ít thay đổi qua các năm, điển hình với tỉ lệ nam là 49,2% và 50,8% (năm 2014). Tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh (trung bình 1,69%/năm), lực lượng lao động dồi dào được xem là cơ cấu dân số vàng vì số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ thuộc.

Xét tỉ lệ thất nghiệp trên toàn tỉnh giai đoạn 2010-2014 cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm từ 3,30% (năm 2010) xuống còn 2,05% (năm 2012), tăng lên 2,41% (năm 2013) và giảm còn 2,25% (năm 2014).

Khái quát tác động của gia tăng dân số và di dân đối với môi trường và dự báo

Nhìn chung, vấn đề phân bố dân cư ở tỉnh Quảng Trị đã có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế. Chẳng hạn, dân cư phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa; nguồn lao động tuy dồi dào nhưng còn hạn chế về chuyên môn.

Dân số tăng nhanh tạo ra nguồn thải tập trung quá lớn, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường tự nhiên, gây ÔNMT nước (rác thải), môi trường đất và môi trường không khí (khí thải, bụi, tiếng ồn...). Đặc biệt tại các đô thị và các KCN.

Khi dân số phát triển sẽ gây áp lực lên môi trường, làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất đai, nhà ở, năng lượng, nước cấp, lương thực, thực phẩm và các nhu cầu khác (chăm sóc sức khoẻ, giáo dục...), làm gia tăng các hoạt động công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, du lịch. và do vậy, khai thác nhiều hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát sinh nhiều hơn các chất thải (khí, lỏng, rắn) vào môi trường.

Từ Hình 2.3 cho thấy, giai đoạn 2011-2014, tỷ lệ dân số tăng trung bình 0,62%/năm. Trong khi đó, tỷ lệ tiêu thụ xăng  dầu  và  khí  đốt  tăng  lần  lượt  là 13,85%/năm  và  14,0%/năm.  Dân  số tăng  cao  kéo  theo  nhu  cầu  sử  dụng nhiên  liệu  xăng  dầu  phục  vụ  cho  sinh hoạt  và  sản  xuất  tăng,  dẫn  đến  lượng khí đốt thải vào môi trường lớn, tạo áp lực nghiêm trọng đến môi trường không khí.  
Dự báo trong những năm tiếp theo, dân số Quảng Trị sẽ phát triển tương đối ổn định và khó có đột biến. Tuy nhiên, theo sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là phát triển đô thị thì vấn đề di cư vào các đô thị và các vùng trọng điểm kinh tế sẽ tăng lên sẽ làm tăng áp lực lên môi trường các khu vực này. 
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: dân số