09:26 Thứ bảy, 30/08/2014

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 1


Hôm nayHôm nay : 21

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4226

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 272468

trung tam tin hoc

Trang nhất » Tin Tức » Tai biến và sự cố môi trường » Tai biến thiên nhiên

Tai biến thiên nhiên

Thứ hai - 30/05/2011 09:48
Quảng Trị là một tỉnh duyên hải miền Trung có cấu trúc địa chất - kiến tạo và hình thái phức tạp. Cùng với sự tương tác của hoàn lưu - địa hình, sự biến đổi khí hậu đã làm gia tăng nhiều dạng tai biến thiên nhiên khác nhau trên địa bàn tỉnh, trong đó đáng kể nhất là lũ lụt, xói lở bờ sông - bờ biển, trượt lở, hạn hán...

 

Từ nhiều năm qua, tỉnh Quảng Trị phải gánh chịu nhiều thiệt hại về người và tài sản do các cơn bão và lũ lụt gây ra làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định đời sống dân cư trên địa bàn toàn tỉnh. Nhìn chung, các dạng tai biến môi trường trên địa bàn Quảng Trị khá đa dạng về loại hình, phân bố ở cả vùng núi, vùng đồi và đồng bằng ven biển với đặc trưng ở mỗi vùng như sau:

Vùng núi phía Tây:ở khu vực này dạng tai biến thường xảy ra nhất là trượt lở đất, phân bố chủ yếu dọc theo tuyến đường nhánh tây Hồ Chí Minh. Các đoạn đường thường xảy ra trượt đất gồm đèo Cổng Trời, đèo Sa Mùi (huyện Hướng Hoá) và những đoạn đường thuộc các xã Đakrông, Tà Rụt (huyện Đakrông). Ngoài ra, còn xuất hiện hiện tượng nứt đất ở khu vực thị trấn Khe Sanh.

Vùng đồi:dạng tai biến thường gặp là sụt lún đất trên nền địa hình karst ngầm và xói lở bờ sông Hiếu. Chúng tập trung chủ yếu tại các xã Cam Tuyền, Cam Thành, Cam Hiếu, Cam Thuỷ và thị trấn Cam Lộ (huyện Cam Lộ).

Vùng đồng bằng ven biển: đây là nơi tập trung nhiều loại hình tai biến như nứt đất, xói lở bờ sông, xói lở bờ biển, lũ lụt, xâm nhập mặn, cát di động, các dị thường bức xạ tự nhiên môi trường. Hơn nữa, đây cũng là địa bàn phân bố dân cư đông, đồng thời là vùng phát triển kinh tế trọng điểm ven biển của tỉnh nên các thiệt hại do tai biến địa chất gây ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động phát triển của vùng. Các khu vực tập trung tai biến ở đồng bằng ven biển bao gồm: đông bắc Vĩnh Linh, Đông Hà - Cửa Việt, Nam Triệu Phong - Hải Lăng.

Trong các dạng tai biến của tỉnh thì lũ lụt, trượt lở đất, sụt đất và xói lở bờ sông, cát bay, cát chảy, hạn hán là các dạng tai biến ảnh hưởng rất nhiều đến quy hoạch lãnh thổ tỉnh, gây hậu quả lớn và cần được quan tâm nghiên cứu sâu để có các biện pháp phòng tránh, khắc phục và giảm nhẹ tác động đến đời sống của người dân.


1. Lũ lụt

Đây là dạng tai biến xuất hiện thường xuyên ở các đồng bằng và ven biển ở tỉnh Quảng Trị. Do sự phân hoá phức tạp về điều kiện tự nhiên, địa hình (dốc, hẹp), mạng lưới sông ngòi (dày, ngắn, dốc) cùng với sự hoạt động của các doi cát theo mùa ở cửa sông, nên những thời điểm có lượng mưa lớn làm lũ lụt gia tăng về cường độ. Hơn nữa, ở các khu vực đầu nguồn, thảm thực vật bị tàn phá nặng nề (trong và sau chiến tranh) cộng với sự bố trí sản xuất và dân cư bất hợp lý làm cho mức độ thiệt hại cả về con người và vật chất trong thời điểm có lũ lụt trở nên nghiêm trọng hơn.

Theo thống kê từ năm 1989 đến nay, trung bình mỗi năm có từ 2 đến 3 cơn bão, lũ xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh với cường độ bão, lũ lớn và diễn ra trên diện rộng. Năm 2006 có 3 cơn bão và 2 áp thấp nhiệt đới gây lũ lụt lớn; năm 2007 có 4 cơn bão, 5 áp thấp nhiệt đới và 3 đợt lũ. Đặc biệt là các trận lũ lớn xảy ra vào tháng 10 năm 2010 làm sạt lở nhiều tuyến đường, có trên 5.500 hộ dân bị ngập lụt, trong đó Triệu Phong có trên 2.000 hộ, Hải Lăng 2.000 hộ, Cam Lộ 690 hộ, thị xã Quảng Trị có 479  hộ, Đakrông 45 hộ, thành phố Đông Hà 254 hộ. Ngoài ra cơn lũ còn gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Chi tiết về thiệt hại do bão, lũ gây ra từ năm 2006-2009được trình bày ở bảng 9.1.

Bảng 9.1.Thiệt hại do bão, lũ gây ra từ năm 2006 -2009

Năm

Người chết

Người mất tích

Người bị thương

Thiệt hại tài sản (tỷ đồng)

2006

2

3

44

246,6

2007

4

7

7

232,0

2008

-

-

-

-

2009

17

 

107

2.468

2010

3

 

 

-

Tổng

-

-

-

-

Nguồn:[1]

Lũ lụt đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân Quảng Trị, làm hư hỏng nhiều công trình thủy lợi, xói lở bờ sông và hệ thống kênh mương. Nhiều đoạn đường trên tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, các tuyến liên huyện, liên xã bị ngập lụt trong nhiều ngày gây ách tắc giao thông nghiêm trọng.

Nhìn chung, lũ lụt là dạng tai biến thiên nhiên thường xuyên xảy ra ở tỉnh Quảng Trị và nó ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như hệ sinh thái ở đây với tần số, quy mô, cường độ và ngày càng phức tạp, không tuân theo quy luật, nên công tác dự báo, khắc phục hậu quả sau lũ gặp rất nhiều khó khăn.

2. Trượt lở đất

Hiện tượng trượt lở liên quan đến thành phần vật chất, cấu tạo của đất đá, địa hình (đặc biệt là với các taluy đường quá dốc, quá cao và cắt vào tầng đất nhạy cảm với trượt lở) và thường xảy ra chủ yếu vào mùa mưa. Ở Quảng Trị vùng có nguy cơ trượt lở cao tập trung ở hai huyện Hướng Hoá và Đakrông.

Hiện tượng trượt lở đất xảy ra mạnh mẽ dọc các tuyến đường giao thông, đặc biệt là các tuyến đường trong vùng đồi núi như: đường Hồ Chí Minh, các đoạn đường liên huyện. Các tuyến đường này thường được xây dựng dọc theo các đới đứt gãy kiến tạo với đặc điểm vỏ phong hoá dày nên khá thuận lợi cho quá trình hình thành trượt lở đất. Kết quả điều tra chi tiết ở 13 đoạn dọc đường Hồ Chí Minh và 4 đoạn dọc Quốc lộ 1 vừa được Cục Địa chất khoáng sản hoàn thành vào năm 2006 [36]cho thấy: Ở Quảng Trị có hai đoạn đường thường xuyên xảy ra hiện tượng trượt lở khi có mưa lớn kéo dài như: đoạn đèo Cổng Trời dài 31 km (xã Hướng Lập, huyệnHướngHoá, tỉnhQuảng Trị) với 15 điểm trượt quy mô vừa đến lớn và đoạn đèo Sa Mùi dài 22 km (xãHướng Phùng, huyện HướngHoá, tỉnhQuảng Trị) với 13 điểm trượt quy mô nhỏ và vừa, 03 điểm trượt quy mô lớn đến rất lớn. Tại các điểm này còn có nguy cơ xảy ra hai khối trượt với quy mô 60.000 - 80.000 m3 và 35.000 - 45.000m3 đất đá.


3. Xói lở

9.1.3.1. Xói lở bờ sông

Ở Quảng Trị xói lở bờ sông thường xảy ra vào mùa lũ và ngay cả mùa khô trên các bờ lõm của đoạn sông và vùng cửa sông. Phần lớn sông ngòi trên địa bàn thường ngắn (10 - 100 km), lưu vực hẹp nên khu vực thượng lưu sông dốc, thung lũng hẹp nên thường xuất lũ hiện đột ngột. Ngược lại, phía hạ lưu các sông, lòng sông được mở rộng, uốn khúc quanh co, độ dốc thấp và hiện tượng tách dòng, phân nhánh rất phổ biến và  gây ra hiện tượng bồi xói phức tạp.

Như đã đề cập ở trên, các sông Quảng Trị đều ngắn dốc, lưu vực hẹp, đồi núi nằm kề đồng bằng nên dễ gây hiện tượng sạt lở trong mùa mưa bão. Bên cạnh đó, nguyên nhân gây xói lở sông còn do tác động lớn của các yếu tố như khí hậu, thủy văn, lượng mưa lớn, đáy sông có độ dốc luôn thay đổi, sự khai thác vật liệu, sự dâng cao mức nước biển và tác động của triều cường.

Hiện tượng xói lở bờ sông dẫn đến hậu quả làm thay đổi dòng chảy, làm sụt đất hai bên bờ sông gây ảnh hưởng trực tiếp đến công trình thủy lợi, gây bồi lắng hạ lưu các con sông và đặc biệt tác động đến nhà cửa, các công trình xây dựng, hoa màu của nhân dân sống xung quanh khu vực đó.

Các khu vực điển hình ở Quảng Trị thường xuất hiện xói lở bờ sông như sau:

- Khu vực cầu cảng tại cửa sông Cửa Việt hiện đang bị xói lở mạnh do thanh phần vật chất cấu tạo bờ chủ yếu bởi cát nên dễ bị xói do động lực dòng chảy và do tác động của thuỷ triều;

- Các cửa sông của Quảng Trị thường bị ngăn cách với biển bởi các doi cát có độ cao khác nhau. Nhiều nơi trên các doi cát đã được ngư dân định cư lâu đời. Các khúc uốn dòng sông thường ép sát các doi cát và có thể bị chọc thủng đê để tìm đường ngắn nhất thoát ra biển làm nảy sinh tai biến tiềm ẩn. Các khu vực dân cư tại Cửa Việt,... đều nằm trong nguy cơ này;

- Sông Thạch Hãn bị xói lở và bồi lấp sông ở hai bên bờ sông, với tổng chiều dài trên 36 km từ hạ lưu đầu mối nam Thạch Hãn về Cửa Việt. Trên toàn bộ sông Thạch Hãn có đến 12 vị trí xói lở nghiêm trọng như: vùng Tân Mỹ, Nhan Biều... Hiện tượng xói lở đã làm mất đất canh tác của người dân sống hai bên bờ sông Thạch Hãn, làm gia tăng độ uốn khúc của sông.

Bên cạnh hiện tượng xói lở làm cạn luồng lạch, thay đổi trường vận tốc dòng chảy, còn xuất hiện những đoạn bờ lồi ở đoạn Triệu Đông - Triệu Độ (sông Thạch Hãn), bồi lấp cát trên các khu vực canh tác thuộc hạ lưu sông Quảng Trị với phủ lớp dày từ vài cm đến nửa mét làm ảnh hưởng đến chất lượng đất khu vực này.

Nguyên nhân của hiện tượng sạt lở bờ sông ở Quảng Trị bao gồm:

- Khai thác vật liệu xây dựng bừa bãi không kiểm soát: đây là vấn đề bức xúc trên tuyến sông Hiếu và sông Thạch Hãn. Việc khai thác các vật liệu (bình quân mỗi ngày có trên 30 thuyền bè với trọng tải từ 6 đến 20 tấn hoạt động khai thác như [4]: sạn, sỏi, cát vàng, cát xây dựng… tập trung chủ yếu ở các đoạn sông đang bị xói lở nặng. Nguyên nhân này đã dẫn đến hậu quả lòng dẫn các đoạn sông bị biến dạng, đổi dòng cục bộ đoạn từ cầu Quảng Trị đến Triệu Thành .

- Điều kiện địa hình: Do các sông ở Quảng Trị đều ngắn, dốc, lưu vực hẹp, đồi núi nằm kề ngay đồng bằng thấp, lại bị đụn cát chắn ngang dòng chảy nên vào mùa mưa bão với lũ phát sinh cường suất cao, vận tốc dòng chảy 5 - 6 m/s gây sạt lở bờ, bồi lấp sông và ngập lụt sâu, dài ngày. 

*  Xói lở bờ biển

Theo số liệu thống kê, bờ biển tỉnh Quảng Trị có 29 đoạn xói lở. Do đặc điểm cấu tạo đường bờ và động lực biển khác nhau nên hiện trạng xói lở đường bờ có sự khác biệt nhau về số lượng và cường độ xói lở. Các khu vực có địa hình khúc khuỷu, răng cưa nhiều vũng vịnh, cù lao và đá gốc quá trình xói lở bờ thường diễn ra với quy mô nhỏ và trung bình. Khu vực xói lở mạnh và rất mạnh chủ yếu xảy ra ở các bờ biển lồi, thẳng hướng sóng có vật chất tạo bờ chủ yếu là cát. Các đoạn bờ bị xói lở mạnh nhất quan sát thấy ở Vĩnh Thái (Vĩnh Linh), bãi biển ở khu vực của Tùng.

Đoạn bờ biển Quảng Trị thuộc đới bờ tích tụ và đầm phá, cấu tạo bởi cát bở rời, nhiều nơi lộ đá cứng đồng thời chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật trều đều và không đều với biên độ triều từ 0,6 - 1,1 m, nước dâng cực đại trong bão 2,77 m, nên quá trình xâm thực diễn ra mạnh.

Theo các kết quả nghiên cứu trong trong 10 năm qua cho thấy, tốc độ xói lở bờ biển trung bình đạt khoảng 5 – 7 m/năm nhưng luôn thay đổi và giảm dần theo thời gian.

Diện tích bồi và xói lở ở một số huyện được nêu ở bảng 9.2 và 9.3.

Bảng 9.2.Thống kê diện tích bồi, lở ở Quảng Trị

STT

Tên huyện

Diện tích bồi (ha)

Diện tích xói lở (ha)

1

Vĩnh Linh

20,2

32,5

2

TriệuPhong,Hải Lăng

-

153,2

 

   Nguồn: Chương trình KC09- Phạm Huy Tiến, 2004.

    Bảng 9.3.Hiện trạng sạt lở bờ biển tỉnh Quảng Trị

Địa danh

Năm

xảy ra

Vị trí

Số đoạn

Chiều dài (m)

Tốc độ xói(m/n)

Tỉnh

Huyện

Quảng Trị

Gio Linh

Gio Hải

1996

Bờ biển

1

10

5

Gio Việt

Hàng năm

Cửa Việt

 

 

 

Trung Giang

1996

Bờ biển

5

1,4

20

Vĩnh Linh

Vĩnh Thái

 

Bờ biển

 

 

15,8

Vinh Quang

1985

Bờ biển

2

0,4

0,6

 

1985

Cửa Tùng

 

 

 

Vĩnh Quang

1986

Bờ biển

2

5

 

 

1989

Cửa Tùng

 

 

3,5

Vĩnh Thạch

1980

Bờ biển

3

1,4

0,25

Vĩnh Kim

1985

Bờ biển

2

0,3

 

Hải Lăng

Hải Khê

 

Bờ biển

 

 

 

Hải An

1985

Bờ biển

 

7

 

Triệu Phong

Triệu Lăng

 

Bờ biển

6

5,4

0,91

Triệu Vân

1999

Bờ biển

8

3

55

Triệu An

 

Bờ biển

 

 

 

1999

Cửa Việt

 

 

 

 

Nguồn: Báo cáo tổng hợp “ Nghiên cứu các vấn đề KT-XH-MT vùng sinh thái đặc thù Quảng Bình - Quảng Trị”

4. Tai biến cát bay, cát chảy

Nạn cát bay, cát chảy xảy ra chủ yếu ở vùng ven biển. Dọc bờ biển Quảng Trị các cồn cát phát triển mạnh tập trung ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh và Thành phố Đông Hà. Hiện tượng cát bay xảy ra do nguyên nhân mùa khô nóng  kéo dài 6 tháng (từ tháng I tới tháng VII), tốc độ gió trong mùa đạt 3-5 m/s đã làm cho cát khô ở các cồn chuyển dịch từ phía biển vào nội đồng, tốc độ trung bình 2-3 m/năm. Các tai biến này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đất, năng suất, diện tích cây trồng nơi đây. Ngược lại với mùa khô, mùa mưa ở Quảng Trị kéo dài từ tháng IX đến tháng XII với lượng mưa có thể đạt trên 600 mm/tháng đã tạo ra dòng chảy mặt tập trung trên vùng cát. Dòng chảy này đã kéo theo một khối lượng cát lớn xuống lấp đồng ruộng.

Những vùng có nguy cơ xảy ra cát bay, cát chảy lớn là vùng duyên hải của tỉnh, bao gồm:

- Huyện Hải Lăng: các xã Hải Khê, Hải An, một phần các xã Hải Dương, Hải Quế, Hải Ba;

- Huyện Triệu Phong: các xã Triệu Vân, Triệu Trạch, một phần xã Triệu Sơn;

- Huyện Gio Linh: các xã Gio Việt, Gio Hải, Gio Mỹ và Trung Giang;

- Huyện Vĩnh Linh: các xã Vĩnh Thái và Vĩnh Tú. Đây là vùng đồng bằng trũng chịu tác động của nhiều loại hình tai biến và đáng chú ý là ngập lụt, sạt lở bờ sông, cát bay cát chảy...

5. Tai biến nứt, sụt đất  

Từ tháng 7/1993 đến tháng 7/1994, ở Quảng Trị liên tục xảy ra nứt đất ở nhiều vùng với quy mô khác nhau. Tại Thành phố Đông Hà, nứt đất quan sát thấy ở trung tâm y tế Đông Hà, bệnh viện tỉnh, trong cơ quan Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, xí nghiệp lâm nghiệp Việt - Lào, khách sạn Đông Trường Sơn, trong khu vực UBND Thành phố Đông Hà. Ngoài ra, nứt đất cũng quan sát thấy ở trung tâm y tế huyện Cam Lộ, trường cấp 1 - 2 Long Thành huyện Hướng Hoá, xã Vĩnh Lâm, Vĩnh Nam huyện Vĩnh Linh, xã Gio Châu huyện Gio Linh, xã Hải Thắng huyện Hải Lăng, xã Cam Thành huyện Cam Lộ.

Không gian nứt đất bao trùm 8 huyện, thị xã của tỉnh Quảng Trị. Quy mô nứt đất có mức độ và độ mở khác nhau, có nơi chỉ vài cm nhưng có nơi tới 1 m, chiều dài vết nứt từ vài mét đến 50 – 60 m, độ sâu trông thấy đạt tới 4 m.

Sự xuất hiện của tai biến đất làm hư hỏng nhiều công trình, chẳng hạn: tại trung tâm y tế huyện Cam Lộ, tường nhà bị nứt toạc, có nhiều chỗ bị sập vì vậy, UBND tỉnh Quảng Trị có quyết định đóng cửa trung tâm y tế này; Khu nhà trường cấp 1,2 Long Thành phải đóng cửa một lớp học do bị hỏng nặng; Các đập thuỷ lợi Khe Thanh, Lìa, Nghĩa Hy, Bà Huyện có nhiều vết nứt ngang đập, phải xử lý khẩn cấp và phải bố trí người canh gác, theo dõi suốt trong mùa mưa bão.

Theo ý kiến các nhà chuyên môn, hiện tượng nứt đất ở Quảng Trị xảy ra trên quy mô lớn và nghiêm trọng có liên quan đến hoạt động kiến tạo hiện đại và do quá trình karst ngầm tái hoạt động. Nơi đây còn là một trong những lò magma đã phun trào vào cuối Neogen - Đệ Tứ, nay có dấu hiệu bất ổn định nên đã ảnh hưởng đến bề mặt địa hình của vùng lãnh thổ này.

Sụt lở đất xảy ra tại khu đất ở thôn Tân Hiệp, Hậu Mỹ, trạm y tế Cam Lộ - huyện Cam Lộ vào tháng 2 năm 2006. Riêng ở thôn Tân Hiệp có tổng cộng 19 hố sụt sâu, nhiều hố có đường kính đạt tới 30 m, sâu 10 m. Mặt đất thôn Tân Hiệp xuất hiện những vết nứt chằng chịt khắp nơi, nhiều đoạn đường giao thông liên thôn bị sụt lún không đi lại được. 

Theo khảo sát, liên tục từ cuối tháng 2/2006 (đợt sụt lún đất nguy hiểm đầu tiên ở huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) cho đến tháng 9/2006 của Liên đoàn địa chất Bắc Trung Bộ, trên phạm vi 25 km2 của 9 xã dọc sông Hiếu từ xã Cam Tuyền xuôi về ngã ba thành phố Đông Hà có khá nhiều điểm có nguy cơ bị sụt, lún rất nghiêm trọng với 2 cấp độ nguy hiểm là A và B. Vùng sụt lún đất nguy hiểm cấp A khoảng 20 ha tại 2 thôn Tân Hiệp (xã Cam Tuyền) và Hậu Viên (thị trấn Cam Lộ) với 106 hộ dân cư đang sinh sống. Vùng nguy hiểm cấp B khoảng 50 ha, nằm rải rác ở các thôn Tân Mỹ (Cam Thành); Hậu Viên, Vĩnh An, Bệnh viện Cam Lộ (cũ) thuộc Thị trấn Cam Lộ. Vùng xói lở mạnh (cấp A) chủ yếu nằm ở 2 thôn Thạch Đâu, Bích Giang (xã Cam Hiếu), Lâm Lang (Cam Thủy), đây là vùng xói đang phát triển nguy hiểm, cách bờ sông khoảng 50 m. Các nhà khoa học của Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ đã cảnh báo, không nên để dân cư ở và sống trên vùng sụt lún đất nguy hiểm cấp A, gồm 11,7 ha  thuộc trung tâm thôn Tân Hiệp (đã xảy ra thảm hoạ tháng 2/2006) và khoảng 7,8 ha phía Tây thôn Hậu Viên (thị trấn Cam Lộ). Tại thôn Tân Hiệp, sau thảm họa sụt lún đất đêm 18/2/2006, tỉnh Quảng Trị, đã tổ chức di dời được 95 hộ dân đến nơi lập nghiệp mới (trên địa bàn xã), hiện vẫn còn 80 hộ  chưa chuyển đi.Theo các tác giả, nguyên nhân gây sụt lún đất là do hoạt động phức tạp của nước ngầm trong các hang động karst trong đá vôi hệ tầng Cù Bai (D2-3cb) hình thành cách đây 260 -380 triệu năm nằm dưới trầm tích Đệ tứ dày < 8 m, kết cấu kém ổn định dưới tác động của điều kiện địa chất thuỷ văn bất thường. Ở Cam Tuyền có hai khu vực sụt lún đất nguy hiểm có qui mô từ trung bình đến lớn là trung tâm thôn Tân Hiệp, tây thôn Hậu Viên, 5 khu có nguy cơ sụt đất qui mô nhỏ, ít nguy hiểm gồm: tây Tân Mỹ, đông Tân Mỹ, Hậu Viên - Trung Viên, Vĩnh An và trạm y tế Cam Lộ.

 

Hình 9.6.  Sụt đất xảy ra ngày 18/2/2006 tại thôn Tân Hiệp, xã Cam Tuyền (Cam Lộ) làm sập nhà cửa của dân

Ảnh chụp: Quangtrinet

Hình 9.7.Sụt đất xảy ra ngày 18/2/2006 tại thôn Tân Hiệp, xã Cam Tuyền (Cam Lộ) làm sập đường giao thông

Ảnh chụp: Quangtrinet

 

6. Hạn hán

Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, mùa khô từ tháng III đến tháng VIII, nhiệt độ lớn nhất có khi lên đến trên 40oC kèm theo gió Tây nam khô nóng gây hạn hán, nước mặn xâm nhập vào nội địa từ 25 – 30 km. Nạn cát bay làm lấp đồng ruộng, nhà cửa gây thiệt hại cho đời sống nhân vùng ven biển. Hạn hán trên địa bàn thường diễn ra từ năm này qua năm khác.

Vào mùa hè hướng gió thịnh hành là hướng tây nam và nam với tần suất trung bình là 50% và vận tốc trung bình là 2,5 - 3,5 m/s. Gió Tây thường mang hơi nóng (tên địa phương gọi là gió Lào) trung bình khoảng 50 - 60 ngày trong năm ở vùng đồng bằng Quảng Trị đã gây ảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong khu vực.

Các số liệu thống kê những ngày khô nóng qua nhiều năm cho thấy, ở Quảng Trị trung bình hàng năm có khoảng 63 ngày khô nóng, tuy nhiên, năm có nhiều ngày khô nóng nhất có thể lên đến 103 ngày (1988), năm ít nhất có 36 ngày (1989). Tần số và tấn suất gió tây khô nóng các tháng trong năm được nêu ở bảng 9.4.

Bảng 9.4.Tần số và tần suất gió tây khô nóng

Tháng

Tuần

3 ngày

5 ngày

III

1

0,03

0

2

1

0,1

3

2

0,2

IV

1

0,9

0,05

2

1

0,05

3

1,7

0,2

V

1

0,8

0,04

2

8,6

2,2

3

10,6

2,5

VI

1

7,4

1,4

2

8,1

1,9

3

8

1,7

VII

1

7,1

1,2

2

12,5

3,2

3

11

2,4

VIII

1

5,6

0,9

2

2,6

0,3

3

0,6

0,02

 

 

Gió tây khô nóng làm gián đoạn chế độ mưa mùa hè, làm giảm đáng kể lượng mưa trong những tháng hè, đồng thời làm tăng khả năng bốc thoát hơi nước tiềm năng, giảm độ ẩm của đất và cũng là nguyên nhân gây hạn hán trong mùa hè.

7. Lốc xoáy

Lốc xoáy là một dạng tai biến thường đi kèm với mưa lớn xảy ra thường xuyên ở Quảng Trị. Nhiều địa phương ở Quảng Trị gặp dạng tai biến này như xã Triệu Trung... 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a