18:27 Thứ năm, 27/11/2014

Trang chủ

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 1


Hôm nayHôm nay : 94

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 5885

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 288094

trung tam tin hoc

Textlink

cong ty moi truong

Trang nhất » Tin Tức » Tổng quan về điều kiện tự nhiên

Địa chất, khoáng sản

Thứ năm - 26/05/2011 15:29
Địa chất là một trong những tư liệu cơ sở của môi trường tự nhiên. Nền móng địa chất tạo ra bản chất và sự phân bố của địa hình, đất, các đơn vị cảnh quan, sự phát triển của mạng lưới thuỷ văn, trữ lượng nước ngầm và các tài nguyên khoáng sản...

Lãnh thổ Quảng Trị thuộc cấu trúc địa chất thường được gọi là miền uốn nếp Paleozoi Trường Sơn, bao gồm 2 đới kiến trúc kiến tạo chính là đới Long Đại và đới A Vương, phân cách bởi đứt gãy sâu Đakrông -Bạch Mã.

Các hoạt động phá huỷ kiến tạo và lịch sử phát triển địa chất Quảng Trị nói chung rất phức tạp, mang đặc tính nhiều pha chồng lặp lên trên các yếu tố địa chất… Rất có thể trong các giai đoạn tiền sử, khu vực tỉnh Quảng Trị là nơi hội tụ của hai mảnh vỏ lục địa Hoa Nam ở phía bắc và Inđoxinia ở phía nam. Các pha kiến tạo Inđoxini Paleozoi muộn Mesozoi sớm (240 tr.n), Mesozoi muộn (130 tr.n) và Kainozoi (30 tr.n) có cường độ phá huỷ mạnh ghi dấu ấn rõ nét, chi phối bình đồ cấu trúc cũng như các khoáng sản nội sinh của toàn vùng.

Vùng núi và gò đồi tỉnh Quảng trị nằm trong đới Trường Sơn Bắc với cấu trúc dạng tuyến tây bắc- đông nam. Các thành tạo trầm tích, macma cấu tạo nên một phức nếp lồi mà trực của chúng gần trùng với đường phân thuỷ của dải Trường Sơn. Các đứt gãy trong vùng khá đa dạng về quy mộ, độ sâu và hướng. Nhìn từ góc độ vai trò kiến tạo của các hệ thống đứt gãy có thể chia ra hai cấp:

- Cấp phân chia khối nhưđứt gãy Đakrông – Pok; đới đứt gãy này là ranh giới giữa địa khối Indosini và địa khối Bắc Trung Bộ, đứt gãy hoạt động theo cơ chết trượt bằng phải;

+ Các đứt gãy phân chia các khối kiến trúc gồm đứt gãy Rào Nậy, Đakrông - Huế, đứt gãy Khe Giữa – Vĩnh Linh có những biểu hiện hoạt động tích cực trong hiện đại như có dị thường radon, thuỷ ngân như Bến Quảng – Sa Lung, có dị thường địa nhiệt ở Hồ Xá; ngoài ra còn biểu hiện nứt đất ở dọc đới đứt gãy.

Đối với các hoạt động kiến tạo thẳng đứng gặp nhiều ở miền nâng và ép nén mạnh ở Trường Sơn với biên độ nâng kiến tạo và địa động lực hiện đại đạt 2500 m. Trục nâng chạy dọc theo biên giới Việt – Lào. Do nâng mạnh nên quá trình sườn và xâm thực sâu diễn ra mạnh mẽ.

 

Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Quảng Trị khá phong phú và đa dạng, nhưng nói chung trữ lượng không lớn lắm. Có thể kể ra cáckhoáng sản chính như dưới đây.

i)Vàng: Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 19 điểm quặng và 3 điểm khoáng hoá vàng được tạo theo 2 nguồn gốc: nguồn gốc nhiệt dịch (19 điểm) và sa khoáng (3 điểm) với tổng trữ lượng thăm dò dự kiến khoảng 47 – 48 tấn. Trong đó có 5 điểm quặng vàng rất có triển vọng là Vĩnh Ô, Sa Lam, Xi Pa, Đá Bàn, A Vao; những điểm quặng này phân bố ở xã Vĩnh Ô (huyện Vĩnh Linh), xã Tà Long, Tà Rụt và A Vao (huyện Đakrông). Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản, điểm quặng Vĩnh Ô và điểm quặng Xi Pa có trữ lượng lớn nhất (khoảng trên 20 tấn vàng). Các điểm quặng vàng nêu trên đều nằm ở những vùng có địa hình đồi núi phức tạp nên khó khăn cho khai thác quy mô công nghiệp.

ii) Titan:Quặng Ilmenit có chứa Titan phân bố trong dải cát dọc ven biển, tập trung chủ yếu ở huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Hải Lăng với trữ lượng trên 500.000 tấn; có thể khai thác với khối lượng khoảng 10 - 20 nghìn tấn/năm để chế biến xuất khẩu.

iii) Cát trắng (cát thủy tinh): Cát thuỷ tinh phân bố chủ yếu ở huyện Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng, nhưng tập trung nhiều ở khu vực Cửa Việt. Dự báo trữ lượng trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 125 triệu m3 với chất lượng tốt, có thể dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất thủy tinh, kính xây dựng, vật liệu silicat...

iv) Cao lanh:Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện được 03 điểm cao lanh ở Tà Long, A Pey (huyện Đakrông) và La Vang (huyện Hải Lăng) có chất lượng khá tốt. Hiện các điểm này đang được tiếp tục thăm dò, thử nghiệm để đưa vào khai thác.

v) Than bùn: Than bùn phân bố ở huyện Hải Lăng, Triệu Phong và Gio Linh, nhưng tập trung nhiều ở xã Hải Thọ (Hải Lăng) và xóm Cát, Trúc Lâm (Gio Linh) với tổng trữ lượng gần 400 ngàn tấn, có thể dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất phân bón hữu cơ, phân vi sinh... Hiện tại, than bùn ở xã Hải Thọ đang được khai thác để sản xuất phân hữu cơ.

vi) Nguyên liệu cho sản xuất xi măng và xây dựng:Quảng Trị là một trong ít tỉnh có đủ 3 nguyên liệu chủ yếu để sản xuất xi măng (đá vôi, đất sét xi măng và phụ gia xi măng). Trên địa bàn toàn tỉnh có 6 điểm: Tân Lâm, Cam Thành, Tà Rùng, Khe Mèo, Động Tà Ri, Tà Rùng và Hướng Lập. Nguyên liệu cho sản xuất xi măng bao gồm:

-Mỏ đá vôi (nguyên liệu cho sản xuất xi măng) được phân bố tập trung ở các điểm Tân Lâm, Cam Thành (huyện Cam Lộ) và Tà Rùng (huyện Hướng Hoá). Theo dự báo, tổng trữ lượng đá vôi ở điểm mỏ Tà Rùng hơn 3 tỷ tấn, Tân Lâm khoảng 340 triệu tấn;

-Ngoài các mỏ đá vôi, còn có các điểm mỏ đất sét xi măng ở Tân An, Cùa, Tà Rùng; mỏ phụ gia cho xi măng ở Vĩnh Hoà, Dốc Miếu, Cam nghĩa… với trữ lượng lớn và chất lượng tốt, đặc biệt là mỏ puzơlan ở Tân Lâm; mỏ này đang được khai thác làm phụ gia hoạt tính cho ximăng.

Nguyên liệu cho xây dựng ở tỉnh Quảng Trị cũng khá phong phú và có tiềm năng lớn, bao gồm sét gạch ngói, đá xây dựng, đá ốp lát, cát, cuội, sỏi... đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng của tỉnh trong giai đoạn hiện nay và trong nhiều năm tới:

 -Sét gạch ngói được phát hiện ở 14 điểm mỏ với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn phân bố nhiều ở Linh Đơn, Mai Lộc, Vĩnh Đại, Nhan Biều, Hải Thượng;

-Đá xây dựng và ốp lát được phát hiện ở 10 điểm và phân bố chủ yếu ở huyện Đakrông và Hướng Hoá. Các mỏ đá xây dựng có trữ lượng ước tính khoảng 500 triệu m3 và phân bố chủ yếu dọc Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh trở về phía Tây – vùng có điều kiện giao thông khá thuận lợi, nên cũng thuận lợi cho khai thác. Các mỏ đá ốp lát – đá granít được phát hiện ở huyện Đakrông và xã Hướng Phùng có màu sắc đẹp với trữ lượng dự báo khoảng 23 triệu m3: có 4 điểm là đá granit Chân Vân, đá hoa Khe Ngài, granodiorit Đakrông và gabro Cồn Tiên.

-Cát, cuội, sỏi xây dựng:Có 16 điểm mỏ với trữ lượng dự báo khoảng 3,9 triệu m3, tập trung ở vùng thượng nguồn các sông, trong đó có nhiều vùng có giao thông thuận lợi cho việc khai thác.

vii) Nước khoáng: Có 4 điểm nước khoáng nóng được phát hiện ở Tân Lâm (huyện Cam Lộ); Ba Ngao, Làng Rượu, Na Lân (huyện Đakrông). Các điểm nước khoáng này đều có lưu lượng khoảng 0,4 - 4 l/s, nhiệt độ 45 - 700C, trong đó điểm làng Rượu có lưu lượng lớn nhất (4 l/s) và nhiệt độ cao nhất (700C). Tất cả các điểm nước khoáng nóng đều thuộc nhóm nước khoáng cacbonic.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị còn có khoáng pirít phân bố ở Vĩnh Linh với trữ lượng nhỏ.  

Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn